THÔNG TIN VỀ ĐƯỜNG PHỐ TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG BẮC HÀ:

LÝ TỰ TRỌNG

1. Vị trí con đường

Đường Lý Tự Trọng khởi đầu từ ngã tư đường Trần Phú (QL 1A) - KP 4, Phường Trần Phú đến đường Nguyễn Công Trứ - đường Nguyễn Tất Thành.

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Lý Tự Trọng tên thật là Lê Hữu Trọng (1914-1931) là một trong những nhà cách mạng trẻ tuổi nhất của Việt Nam.
Quê ở xã Việt Xuyên, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh nhưng lại sinh ra tại tỉnh NaKhon Phanôm - Thái Lan.
Năm 1923, chỉ mới 10 tuổi, Lý Tự Trọng được sang Trung Quốc học tập, học giỏi, nói thạo tiếng Hán và tiếng Anh. Anh hoạt động trong Hội Thanh niên Cách mạng đồng chí. Năm 1929, Lý Tự Trọng về nước hoạt động với nhiệm vụ thành lập đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và làm liên lạc cho xứ uỷ Nam Kì với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngày 9 tháng 2 năm 1931, trong buổi mít tinh kỉ niệm một năm cuộc khởi nghĩa Yên Bái tổ chức tại Sài Gòn, khi mật thám đến đàn áp, Lý Tự Trọng đã bắn chết thanh tra mật thám Legrant, anh bị bắt và kết án tử hình.

 

NGUYỄN CÔNG TRỨ

1. Vị trí con đường

Bắt đầu từ đoạn giao với đường Đặng Dung đến đoạn giao với Đại lộ Xô Viết Nghệ Tĩnh

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nguyễn Công Trứ (Mậu Tuất 1778 - Mậu Ngọ 1858) là danh sĩ đời Tự Đức, lúc nhỏ có tên là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hải Văn, quê ở làng Uy Viễn, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình quan lại, cha làm Tham tán Nhung vụ, tước Đức Ngạn Hầu triều Lê - Trịnh. Năm 1819 ông đỗ Giải nguyên, năm 1820 được bổ làm Hành tẩu ở Quốc Sử quán, thăng dần lên Lang trung, Thị lang, Tham tri, sung chức Dinh điền sứ, Tổng đốc An Hải, nhiều lần làm tướng cầm quân dẹp thảo khấu bình định nội loạn, rồi bị cách chức, sau lại phục chức thăng Phủ doãn Thừa Thiên. Ông tính tình ngay thẳng, phóng khoáng, lại liêm khiết thương dân, hết mình vì đất nước, công lao không ai sánh được. Ông là người làm hết mực, chơi hết ga, đồng thời là một nhà văn hóa dân tộc. Về "cách chơi" ông có bài thơ nổi tiếng viết ở Huế: "Lênh đênh một chiếc thuyền lan Một cô gái Huế, một quan đại thần Ban ngày quan lớn như thần Ban đêm quan lớn tần mần như ma Ban ngày quan lớn như cha Ban đêm quan lớn rầy rà như con". Ông để lại khá nhiều thơ văn, nhiều bài hát nói theo chất liệu dân ca xứ Nghệ. Là người có công khẩn hoang lập ra hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn, tỉnh Thái Bình. Năm Thiệu Trị thứ ba, 1843, ông bị vu cáo nên bị cách tuột hết chức vụ, giáng xuống làm lính thú ở Quảng Ngãi. Ông đã từng nói: "Lúc làm đại tướng tôi không lấy làm vinh, thì nay làm tên lính tôi cũng không lấy làm nhục. Người ta ở địa vị nào có nghĩa vụ đối với địa vị ấy". Sau khi ông mất, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ suy tôn ông làm Khai canh, Thành hoàng làng. Tháng 6 năm Duy Tân thứ tám (1914) ông được truy phong tước Thọ Tường Tử.

 

PHAN ĐÌNH PHÙNG

1. Vị trí con đường

Đường Phan Đình Phùng bắt đầu từ ngã 3 đường Hà Huy Tập - đường Trần Phú (QL 1A) đến đoạn giao với đường Nguyễn Trung Thiên

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Phan Đình Phùng (Đinh Mùi 1844 - ất Mùi 1895), người anh hùng chống Pháp, hiệu Châu Phong, quê ở làng Đông Thái, nay là xã Đức Phong, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình Nho học, cha là Phó bảng, từng làm Phủ doãn Thừa Thiên, sau ra Bắc làm Tán lý Quân vụ. Phan Đình Phùng đỗ Cử nhân năm 1876, năm 1877 thi Đình đỗ Đình nguyên Tiến sĩ, được cử giữ chức Ngự sử Đô sát viện làm việc tại Kinh đô. Ông tính cương trực thẳng thắn, thông minh, liêm khiết không xu nịnh bất cứ ai, dù đó là vua. Ông cực lực phản đối Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường chuyên quyền tự phế vua Dục Đức, nên 1883, ông bị bắt giam rồi đuổi thẳng về làng. Nhưng khi Kinh đô thất thủ, vua Hàm Nghi ra Tân Sở xuống chiếu Cần Vương, ông đã sát cánh cùng Tôn Thất Thuyết tập hợp nghĩa binh kháng Pháp. Ông lập căn cứ ở vùng rừng núi Hương Sơn, Hà Tĩnh quyết đánh Pháp tới cùng. Ông là người có học vấn cao, lại hay tin dùng tướng trẻ. Cao Thắng là một viên tướng như vậy được ông giao trọng trách mở xưởng chế tạo vũ khí để đánh giặc, nhờ vậy mà nghĩa quân của ông đánh thắng nhiều trận làm cho quân thù tổn thất khốn đốn. Chúng dùng chiêu bài cử Hoàng Cao Khải gửi thư chiêu dụ, ông từ chối; chúng cử Nguyễn Thân và đám tay sai đem quân ra sức đàn áp, bắt thân nhân, quật mồ mả tổ tiên ông, song ông vẫn không sờn lòng mà còn chiến đấu oanh liệt hơn trước. Sau gần 10 năm kháng chiến đánh Pháp, Phan Đình Phùng lâm bệnh, mất tại chiến khu núi Quạt, nhằm ngày 28/12/1895, hưởng dương 51 tuổi (có sách ghi ông sinh năm 1847, mất năm 1895, hưởng dương 48 tuổi). Phan Đình Phùng để lại một số bài thơ: Khóc Cao Thắng, Lâm chung thời tác, Thắng trận hậu cảm tác, Điếu Lê Ninh và Viết sử địa dư vựng cách, lúc sắp mất ông có bài "Thuật hoài" tỏ rõ chí mình, qua bản dịch của Nguyễn Q. Thắng: "Nhung trường vâng mạng đã mười đông, Việc võ lôi thôi vẫn chẳng xong! Dân đói vang trời kêu ổ nhạn, Quân gian dậy đất rộn đàn ong. Chín trùng lận đận miền quan tái, Trăm họ phôi pha đám lửa nồng. Trách vọng càng to càng nặng nhọc, Tướng môn riêng hổ tiếng anh hùng". Được tin ông mất, nhiều văn thân Nghệ Tĩnh và sĩ phu khắp đất nước làm thơ, đối liễn thương tiếc kính viếng ông.

 

TRẦN PHÚ

1. Vị trí con đường

Đường Trần Phú bắt đầu từ ngã 3 đường Phan Đình Phùng – Hà Huy Tập đến đoạn giao với đường Nguyễn Công Trứ

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Trần Phú (Giáp Thìn 1904 - Tân Mùi 1931) Liệt sĩ, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, quê ở làng Tùng ảnh, nay là xã Đức Sơn, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh ra tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi vì cha của ông được phân bổ làm Tri huyện tại đó. Ông là người thông minh, học giỏi ngay từ lúc còn nhỏ ở Đức Phổ, sau ra Huế học tiếp. Năm 1922, ông đỗ bằng Thành chung được điều về dạy tại Trường Tiểu học Vinh, Năm 1925, ông tham gia lập Hội Phục Việt, rồi gia nhập Việt Nam cách mạng đảng (sau tổ chức này đổi thành Tân Việt). Năm 1926, ông sang Trung Quốc, liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tại đây ông được kết nạp vào Cộng sản đoàn rồi được lãnh tụ Nguyễn ái Quốc cử về nước hoạt động với tư cách Người chiến sĩ Cộng sản. Năm 1927, ông được Đảng cử sang Liên Xô học tại Trường Đại học Phương Đông Mátcơva, ông được cử làm Bí thư chi bộ nhà trường dưới cái tên Likiv. Tháng 4 năm 1930 ông về nước, được cử vào BCH T.Ư lâm thời của Đảng. Thời gian này ông khởi thảo bản Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương tại ngôi nhà số 90 phố Thợ Nhuộm, Hà Nội. Tháng 10 năm 1930, tại Hồng Kông, Đảng họp Hội nghị lần thứ Nhất, ông được bầu làm Tổng bí thư của Đảng. Sau đó, ông về nước hoạt động tại Sài Gòn, đến ngày 19/4/1931, do tên Ngô Đức Trì phản bội ông bị mật thám Pháp bắt. Trong tù ông bị tra tấn dã man, rồi lâm bệnh nặng, mất tại Bệnh viện Chợ Quán ngày 6/9/1931, hưởng dương 27 tuổi. Trước khi mất, ông dặn lại các đồng chí của mình: "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu". Ông là người Cộng sản kiên cường, một bậc thầy của giai cấp vô sản Việt Nam.

 

HÃI THƯỢNG LÃN ÔNG

1. Vị trí con đường

Đường Hải Thượng Lãn Ông bắt đầu từ ngã tư Quốc lộ 1A – Vụ Quang đến đoạn giao với đường Nguyễn Trung Thiên

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Hải Thượng Lãn Ông -  Hữu Trác (1720-1791). Sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tư (11-12-1720) tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương. Nay là xã Hoàng Hữu Nam huyện Yên Mỹ, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, ông sống nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) ở quê mẹ xứ Bầu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn và cũng qua đời ở đây vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) thọ 71 tuổi. Mộ ông nay cọ̀n nằm ở Khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc huyện Hương Sơn (cách Thị trấn Phố Châu - Hương Sơn 4 cây số).

Lê Hữu Trác là con thứ bảy của Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng. ọ̀ng họ của ông có truyền thống khoa bảng; ông nội, bác, chú (Lê Hữu Kiều), anh và em họ đều đỗ tiến sĩ và làm quan to. Cha Lê Hữu Trác đỗ đệ tam giáp tiến sĩ làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông, gia phong chức ngự sử, tước bá, khi mất được truy tặng Thượng thư.
Năm Kỷ Mùi (1739) Lê Hữu Trác 20 tuổi thấy cha qua đời, ông rời kinh thành về nhà, vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, thi vào tam trường, sau đó không thi nữa. Năm 1739 cũng là năm mở ra quy mô lớn của phong trào nông dân nổi dậy chống phong kiến, chỉ một năm sau (1740) nghĩa quân của Hoàng Công Chất đánh sát huyện ông. Chàng thư sinh trẻ tuổi Lê Hữu Trác đang mê mải đèn sách phải lánh đi nơi khác đọc sách. Có người thấy thế đă bảo ông "Binh lửa khắp nơi, con trai thời loạn há chịu già đời ở trong phòng sách mãi sao?" và khuyên ông nên theo nghề vợ. Từ đó ông vừa dùi mài kinh sử vừa nghiên cứu binh thư. Sau nhờ ẩn sĩ họ Vũ ở Đặng Xá dạy vũ thuật âm dương (phép bói toán độn số), ông "nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tọ̀ng quân để thí nghiệm sức học của mì́nh" (Tựa "Tâm lĩnh"). Chiến tranh phong kiến đă gây đau thương chết chóc cho biết bao nhiêu gia đình làng xóm, nó không đem lại gì cho nhân dân, cho đất nước; đã làm cho Lê Hữu Trác chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên ông đã nhiều lần từ chối sự đề bạt của tướng nhà Trịnh. Ông nhận ra theo Lê hay Trịnh cũng là chí theo đuổi chiến tranh "cốt nhục tương tàn"; cái chí mạnh "xung Ngưu Đẩu" của ông cũng hóa "ngông cuồng" mà thôi. (Đọc bài thơ trong lời tựa bộ "Tâm lĩnh"). Cho nên năm 1746 khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự "bẻ tên cởi giáp" theo đuổi chí hướng mới. Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả "trăm việc đổ dồn vào ḿnh, sức ngày một yếu" (Lời tựa "Tâm lĩnh"), lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ An là bậc lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về học thuốc, nhiệt tình chữa khỏi.
Trong hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông đọc sách thuốc "Phùng thị cẩm nang" hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, muốn đem hết cái hiểu thấu về y học truyền cho ông. Vốn là người thông minh học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích cho ḿnh mà có thể giúp người đời, nên ông quyết chí học thuốc.

Ở Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu Lãn ông (ông lười) ý nói lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích gắn bó. Giữa cảnh thiên nhiên tĩnh mịch của núi rừng Hương Sơn, sớm khuya mê mải đọc các sách thuốc: Y học nhập môn, Cảnh nhạc toàn thư, Nam dược thần hiệu (của Tuệ Tĩnh), Bảo sinh diệu toản yếu... thật là: Sá chi vinh nhục việc đời, Đem thân đạo nghĩa vào nơi lâm tuyền. (Bất can vinh nhục sự Bảo đao nhập cùng lâm. An bần - Y lý thâu nhàn). Hải Thượng Lãn ông muốn tì́m thầy, tìm bạn để học thêm nhưng nơi núi rừng hẻo lánh "trên không có thầy giỏi để học, dưới không có bạn hiền giúp, chỉ một mình nói với mình, tự hỏi tự đáp mọ̀ mẫm tưởng tượng đủ thứ" (Lời tựa "Tâm lĩnh") để tìm ra chân lý. Sau ông nhờ một ông lang ở làng bên đi lại thân mật, giúp ông giải đáp những mắc mớ, vài ba năm sau ông đă chữa được một số bệnh thông thường trong gia đình và làng xóm.

Mùa thu năm Bính Tý (1754) Lê Hữu Trác ra kinh đô mong tìm thầy để học thêm v́ì ông thấy y lý mênh mông nhưng không gặp được thầy giỏi, ông đành bỏ tiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn "từ khước sự giao du, đóng cửa để đọc sách" (Tựa "Tâm lĩnh"), vừa học tập và chữa bệnh. Mười năm sau tiếng tăm của ông dã nổi ở vùng Hoan Châu (Nghệ An). Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn ông dã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ "Lãn ông tâm lĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức - Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải thượng Lãn ông. Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43 (1782) Lãn ông nhận được lệnh chúa triệu về kinh. Lúc này ông đă 62 tuổi, sức cũng yếu lại là người chăm lo chữa bệnh cho trăm họ, nhất là ông đă quyết chí xa lánh công danh, theo đuổi nghiệp y đă mấy chục năm nên ông nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh với tâm trạng vừa lo lắng, vừa chán nản; măi sau nghĩ đến bộ "Tâm lĩnh" chưa in được, mà ông "không dám truyền thụ riêng ai, chỉ muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết, nhưng việc th́ì nặng sức lại mỏng, khó mà làm được" (Thượng kinh íy sự), nên ông hy vọng lần đi ra kinh đô có thể thực hiện việc in bộ sách, phần "con cái trong nhà cũng hết sức van nài", ông tạm làm vui từ giă gia đình, học trò rời Hương Sơn lên đường. Ra kinh vào phủ chúa xem mạch và kê đơn cho thế tử Trịnh Cán, ông được Trịnh Sâm khen "hiểu sâu y lý" ban thưởng cho ông 20 xuất lính hầu, và bổng lộc ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ để giữ ông lại. Nhưng Lãn ông thấy nếu nhận thưởng chịu ơn thì khó lòng rời kinh đô trở lại Hương Sơn được, nên ông giả ốm không vào chầu, sau lại viện cớ tuổi già mắt hoa, tai điếc thường ốm yếu để được trọ ở ngoài.
Bọn ngự y ghen tỵ với Lãn ông không chịu chữa theo đơn của ông, nên thế tử không khỏi, ông biết thế nhưng không hề thắc mắc với bọn thầy thuốc thiếu lương tâm này, mặt nữa ông không thật nhiệt tình chữa, kết quả để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi.  Thời gian ở kinh đô, Lãn ông muốn về thăm cố hương Hải Dương của mình, nhưng mãi đến tháng 9 năm 1782, sau chúa Trịnh mới cho phép ông về. Sau hơn 20 năm xa cách, được trở về mảnh đất "chôn nhau cắt rốn". Đang sống giữa quê hương, ông lại có lệnh triệu về kinh vì Trịnh Sâm ốm nặng. Nhận được lệnh triệu, ông đành phải rời quê hương. Về kinh ông chữa cho Trịnh Sâm khỏi và cũng miễn cưỡng chữa tiếp cho Trịnh Cán. Trịnh Sâm lại trọng thưởng cho ông. Ông bắt buộc phải nhận nhưng bụng nghĩ: "Mình tuy không phải đã bỏ quên việc ẩn cư, nhưng nay hãy tạm nhận phần thưởng rồi sau vứt đi cũng được" (Thượng kinh kư sự). Trịnh Sâm chết vì bệnh lâu ngày sức yếu, Trịnh Cán lên thay, nhưng Trịnh Cán cũng ốm dai dẳng nên "khí lực khô kiệt", khó lòng khỏe được, lại nóng lòng trở về Hương Sơn, Lãn ông đang tìm kế thoái lui, thì may có người tiến cử một lương y mới, ông liền lấy cớ người nhà ốm nặng rời kinh.
Hải Thượng Lãn ông trở về Hương Sơn bằng đường thủy, nhưng sợ triều đình bắt trở lại ông phao tin đi đường bộ. Thoát khỏi kinh đô ông sung sướng như "chim sổ lồng, cá thoát lưới", lòng chỉ muốn "bay nhanh" về quê nhà: Lên đường từ giã long lâu Gươm đàn nửa gánh ra ngay đô thành, Ngựa quen đường cũ về nhanh, Quay thuyền khó lúc lênh đênh giữa dòng. Mây qua đường để bớt nồng Núi non mở mặt như lòng với ai
Xanh xanh một dải non đoài Giống non ta cũ chỉ vài  hn thôi.(Thượng kinh kư sự). Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn ông về đến Hương Sơn. Gần một năm sống giữa kinh đô phong kiến biết bao công danh phú quý lôi kéo, nhưng ông "thung dung" ra đi lại "ngất ngưởng" trở về, lòng trong không hề đục, chí lớn không hề sờn.
Năm 1783 ông viết xong tập "Thượng kinh ký sự" ghi lại tỉ mỉ chuyến đi kinh, tập ký ấy là một tác phẩm văn học vô cùng quý giá. Mặc dầu tuổi già, công việc lại nhiều: chữa bệnh, dạy học, nhưng ông vẫn tiếp tục chỉnh lý, bổ sung, viết thêm (tập Vân khi bí điển, năm 1786) để hoàn chỉnh bộ "Tâm lĩnh". Hải Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền y học dân tộc, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại.

 

XUÂN DIỆU

1. Vị trí con đường

Đường Xuân Diệu bắt đầu từ ngã tư Phan Đình Phùng – Võ Liêm Sơn đến đoạn giao với đường Nguyễn Du

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Xuân Diệu (Bính Thìn 1916 - ất Sửu 1985) Nhà thơ lớn của thời đại, nhà lý luận phê bình, tên thật là Ngô Xuân Diệu, quê làng Trảo Nha, nay thuộc thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh trưởng tại quê mẹ ở làng Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Lúc nhỏ, ông học ở Qui Nhơn, sau ra Huế theo hết Trung học, thi đậu Tú tài năm 1940. Xuân Diệu có thời gian làm viên chức ở Sở Thương chánh, nhưng lại quá say mê viết văn, làm thơ đăng báo, tài năng văn chương sớm bộc lộ nên nhanh chóng nổi tiếng. Năm 1943, ông thôi việc ở Sở Thương chánh, ra Hà Nội sinh sống. Năm 1944 ông tham gia phong trào Việt Minh. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông tham gia công tác cách mạng trong Hội Văn hóa cứu quốc, làm Thư ký tạp chí Tiền Phong của Hội. Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông từng trải qua các chức vụ: Đại biểu Quốc hội khoá I (từ1946 đến1960), Thư ký tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Việt Bắc, ủy viên Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, ủy viên Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, ủy viên BCH hội Hữu nghị Việt Xô; năm 1983, ông được bầu làm Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học nước Cộng hòa dân chủ Đức. Do công lao đóng góp cho cách mạng và nền văn hóa Việt Nam, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều Huân, Huy chương cao quí khác. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Ông mất tại Hà Nội năm 1985, thọ 69 tuổi. Ông là một nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới, nhà thơ Tình nổi tiếng được mọi giới chấp nhận, là nhà thơ lớn của nền văn học văn hóa Việt Nam hiện đại. Xin giới thiệu bài thơ "Mùa thi" ông viết năm 1934 để hiểu thêm về thơ ông: "Thơ ta hơ hớ chưa chồng, Ta yêu, muốn cưới, mà không thì giờ: Mùa thi sắp tới! Em thơ, Cái hôn âu yếm xin chờ năm sau". Ông để lại các tác phẩm chính: Thơ thơ, Phấn thông vàng, Gửi hương cho gió, Mài sắt nên kim, Thơ văn Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương, Hội nghị non sông, Ngọn quốc kỳ, Riêng chung, Một khối hồng, Mũi Cà Mau, Cầm tay... Thơ và từ Đào Tấn... tổng cộng ông để lại gần 50 cuốn sách các loại.

 

NGUYỄN HUY TỰ

1. Vị trí con đường

Đường Nguyễn Huy Tự bắt đầu từ đoạn giao đường Phan Đình Phùng đến đoạn giao với đường Nguyễn Du

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nguyễn Huy Tự (Quý Hợi 1743 - Canh Tuất 1790) Nguyễn Huy Tự là nhà thơ đời vua Lê Hiển Tông, tự là Hữu Chi, hiệu ẩn Trai, quê ở làng Trường Lưu, huyện La Sơn (nay là Can Lộc, Hà Tĩnh). Năm 16 tuổi ông đỗ Hương cống. Năm 24 tuổi nhận chức Tri phủ Quốc Oai. Năm 1770, do có công phụ đạo thế tử họ Trịnh ông được trọng vọng theo hàng Tiến sĩ, thăng chức Hiến Sát sứ Sơn Nam, ít năm sau được phong tước Nhạc Đình Bá cải sang ngạch quan võ làm Đốc đồng Sơn Tây năm 1782. Rồi cáo quan về chịu tang mẹ và ẩn cư tại quê nhà. Nhà Lê Trung Hưng mất ngôi, ông lại được vua Quang Trung chỉ triệu vào Kinh đô Phú Xuân, bổ chức Hữu Thị lang. Năm 1790 ông lâm bệnh nặng, qua đời ở tuổi 47, tên thụy là Thông Mẫn. Tác phẩm chính để lại có tập truyện thơ Hoa Tiên. Từ năm 2002 trở về trước đường này chỉ có một nhà dân duy nhất ở.

 

LÊ NINH

1. Vị trí con đường

Đường Lê Ninh bắt đầu từ  đường Hải Thượng Lãn Ông  giáp sở Y tế qua phía tây bệnh viện tỉnh đến đường 70m.

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Lê Ninh (1857-1887), quê Trung Lễ, Đức Thọ. Là người tổ chức, chỉ huy cuộc kháng chiến chống Pháp đầu tiên tại Hà Tĩnh.

 

LÂM PHƯỚC THỌ

1. Vị trí con đường

Đường Lâm Phước Thọ từ ngõ 11 đường Nguyễn Huy Tự đến đường Xuân Diệu

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Chiến sỹ cách mạng, quê tỉnh Bình Định, tỉnh kết nghĩa với Hà Tĩnh

 

TRẦN THỊ HƯỜNG

1. Vị trí con đường

Đường Trần Thị Hường từ ngõ 9 đường Nguyễn Huy Tự xuyên sang ngõ 5 đường Xuân Diệu đến ngách 1/3 đường Lý Tự Trọng

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nữ liệt sỹ (thời kỳ 30-31), quê thành phố Hà Tĩnh.

 

TRUNG TIẾT

1. Vị trí con đường

Đường Trung tiết từ đường Nguyễn Huy Tự qua đường Nguyễn Công Trứ xuống khu tiểu thủ công nghiệp Bắc Quý

2. Địa danh lịch sử gắn liền với con đường

Là tên xã đựơc chọn đặt làm tỉnh thành Hà Tĩnh từ năm 1831; nay gồm các phường Văn Yên, Thạch Quý, Tân Giang, Nam Hà, Bắc Hà, Nguyễn Du và các xã Thạch Hưng, Thạch Phú, Thạch Trung, một phần các phường Hà Huy Tập, Trần Phú... và là trung tâm của Thành phố Hà Tĩnh. 

 

NGUYỄN KHẮC VIỆN

1. Vị trí con đường

Đường Nguyễn Khắc Viện từ ngõ 3 đừơng Phan Đình Phùng sang hết ngõ 15 đường Lý Tự Trọng

2. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nguyễn Khắc Viện (1913-1997), quê xã Sơn Hoà, huyện Hương Sơn. Là nhà hoạt động chính trị xã hội, nhà nghiên cứu văn hoá, tâm lý - giáo dục và y học. Được tặng giải thưởng của nhà nước và giải thưởng Grand prix de la Francophonie của Viện hàn lâm Pháp. Huân chưong Độc lập hạng nhất.

 

Văn bản mới ban hành
Bản đồ phường Bắc hà
 Liên kết website
Thống kê: 24.505
Online: 20